coming home again meal

Về nhà lần nữa

Những gì một đứa con nhớ nhất, khi tất cả còn lại chỉ là kí ức.

Tác giả: Chang-rae Lee, truyện ngắn đăng trên tạp chí The New Yorker xuất bản ngày 16/10/1995.

Khi mẹ bắt đầu dùng máy bơm điện tử để truyền thuốc và nước biển, cả nhà chuyển mẹ sang phòng gia đình. Căn phòng ngủ nơi mẹ ở chung với ba nằm trên lầu, và mang chiếc máy đó lên xuống ngày đêm là điều không thể. Cái bơm gắn liền với một chân đứng bằng kim loại, mẹ kéo nó đi khắp mọi chỗ bà đến. Từ khắp nơi trong nhà, tôi có thể nghe thấy tiếng bánh xe lăn trên sàn gạch gần phòng khách, lối đi chính của mẹ từ phòng tắm sang nhà bếp. Đôi khi tôi có thể nghe được mẹ dừng lại chỉ sau một vài bước, để thở và đứng vững lại, và lúc đó dù làm gì tôi cũng dừng lại, sự im lặng ngắt quãng mọi hành động.

Tôi thường ở trong bếp, đang chuẩn bị bữa ăn trưa hay ăn tối, đứng đĩnh đạt bên cái thớt to, cầm con dao đầu bếp yêu thích của mẹ trong tay, chiếc tạp dề cũ màu vàng quanh cổ. Mỗi khi sự im lặng bất chợt ào đến, tôi như ngừng thở, ngừng cắt gọt, nhìn chằm chằm một cách trống rỗng vào lưỡi dao bóng trước mặt. Một lúc sau, mẹ hắng giọng, hay nói to lên rằng mẹ ổn, và bắt đầu đi tiếp với nhịp điệu ngắt quãng; chỉ lúc đó, tôi mới tiếp tục việc nấu nướng; thế giới trong ngôi nhà xoay chuyển một lần nữa, xoay qua khoảng tối.

Tôi không phải nấu cho mẹ mà cho những người còn lại. Khi mới dọn xuống đất mẹ vẫn còn ăn được, dù ít thôi, chủ yếu là để nếm xem chúng tôi ăn gì chứ không phải vì thật sự muốn ăn. Quan trọng là chúng tôi ngồi cùng nhau ở bàn ăn và tưởng tượng mình vẫn là một gia đình như xưa. Mẹ ngồi nhẹ lên chiếc ghế của bà gần bếp. Tôi ngồi đối diện, ba và chị gái ngồi bên trái và phải, ở giữa bàn đầy ắp tất cả các món mà tôi đã nấu- súp cá cay, hay bò nấu gừng, những món mà khi tôi còn nhỏ mẹ đã nấu cho cả nhà cả trăm lần.

Đã mười năm trôi qua từ lúc chúng tôi sống cùng nhau dưới mái nhà này; năm 15 tuổi tôi rời gia đình đi học nội trú ở bang New Hampshire. Mẹ đôi khi hay chỉ ra điều này, bằng cách nói về thời điểm hiện tại của chúng tôi là “giống y như trước lúc con đi học Exeter”; Điều đó khiến tôi ngạc nhiên, vì lúc nào mẹ cũng có vẻ rất tự hào rằng tôi đã tốt nghiệp từ ngôi trường đó.

Cho tôi đi đến một nơi như vậy là một phần của kế hoạch không-bí-mật-lắm của mẹ để thay đổi con người tôi, vì bà lo lắng rằng tôi ngày càng giống bà nhiều quá. Tôi đủ thông minh và có thể tự làm nhiều thứ, nhưng vì thiếu áp lực bên ngoài tôi sẵn sàng lười biếng và chỉ biết chăm lo ngắm nhìn bản thân mình. Ngôi trường nổi tiếng đó- nơi mà không một ai trong gia đình biết tí gì về nó- sẽ tôi luyện tôi. Mẹ đã đúng, hẳn nhiên, và khi theo học ở trường tôi đã vấp ngã không ít lần, trong việc học và cả những thứ khác. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng việc mình rời khỏi nhà là một trăn trở đối với mẹ, trăn trở lẻ loi một mình mà bà mang theo đến những ngày cuối đời.

Bây giờ căn nhà của mẹ lại đầy người. Chị tôi vừa mới xin thôi việc ở thành phố New York, và ba, người vẫn thường đặt hẹn với bệnh nhân tâm lý của ông đến tám chín giờ tối, giờ lại về nhà đúng bốn giờ rưỡi. Tôi đã sống ở nhà gần một năm, và đang trong chặng đường cuối cùng để hoàn thành cuốn tiểu thuyết (mà sau đó thất bại thảm hại). Trong những lúc không phải khổ sở vật lộn với những câu chữ, tôi giữ mình bận rộn với những thứ mẹ hay làm- đi công chuyện mỗi ngày, đi chợ, hút bụi và dọn dẹp, và tất nhiên, hết thảy những việc nấu nướng.

Khi sáu hay bảy tuổi, tôi hay ngồi xem mẹ chuẩn bị những bữa ăn mà chúng tôi thích nhất. Đó là một trong những niềm vui mỗi ngày của tôi. Lúc đầu, mẹ còn hay xua tôi đi chỗ khác, bảo là nhà bếp không phải nơi dành cho con- bằng một giọng nói nửa tự hào, nửa tự ti, rằng việc làm trong nhà bếp của mẹ dường như làm cho tôi yếu mềm hơn. “Ra ngoài mà chơi với các bạn của con kìa”, mẹ chợt nói bằng tiếng Hàn, “hay tốt hơn nữa, đi đọc sách hay làm bài tập về nhà đi”. Mẹ biết rằng tôi đã làm cả hai xong hết rồi, và càng về chiều, chẳng còn chỗ nào để đi ngoài căn nhà bếp nhỏ gọn gàng của mẹ, cái nơi mà từ đó tiếng loong coong của thau chậu và xoong chảo vang khắp nhà.

Tôi đi vào nhà bếp rón rén và đứng bên cạnh, cằm nhón lên cạnh hông mẹ. Nhòm qua khe cánh tay của mẹ, tôi mải mê ngắm nhìn từng chuyển động của bàn tay bà. Để làm kalbi, mẹ cầm miếng thịt bò lên, với miếng xương như hình chiếc cánh máy bay với thịt bao ngoài, và với mũi dao, mẹ cắt sao cho miếng xương rơi ra, không hẳn đứt lìa, mà vẫn còn nối với miếng thịt bằng miếng dây chằng. Xong mẹ cắt phần thịt hình cánh bướm, cắt vào lật ra, lặp đi lặp lại cho đến khi miếng thịt nằm thẳng ra trên thớt, đẹp đẽ và sẵn sàng để ướp. Mẹ xắt nhẹ theo đường chéo, rắc đường vào các rãnh trên thịt, nhè nhẹ thoa vào. Đường giúp làm mềm và làm ngọt thịt. Mẹ lặp lại với từng miếng sườn, rồi để sang một bên trong chiếc thau lớn. Mẹ băm một chục tép tỏi, một tí gừng, xắt mấy cọng hành lá, và thoa đầy trên miếng thịt. Mẹ lau tay và lấy ra một chai dầu mè, ngừng lại vài giây, rồi xịt dầu thành hai vòng tròn trong thau. Sau khi thêm vào một tí nước tương, mẹ dùng tay bóp mấy miềng thịt, cẩn thận để phần xương vẫn không rời ra. Tôi hỏi tại sao việc miếng thịt vẫn phải dính liền với phần xương lại quan trọng đến vậy. “Miếng thịt cần có xương cạnh bên’”, mẹ nói, “để mượn sự đậm đà của nó”. Mẹ lau sạch tay, nhưng chừa lại ngón tay út, rồi nếm thử, vì mẹ biết rằng mùi vị của một món ăn ngon không đến một lúc, mà đến theo từng bước một.

Mỗi lần làm bếp, tôi lại thấy mình làm việc như chính mẹ hay làm, chuẩn bị sẵn mọi nguyên liệu- một tí tỏi băm, ớt đỏ, một tí tôm- và chồng chúng lên từng đống nhỏ cao chừng mặt thớt. Mẹ chưa bao giờ để lại cho tôi công thức nấu ăn nào, nhưng đây là cách tôi học mẹ làm bếp, mỗi món đến từ sự cộng hưởng của mùi vị trải ra trên bàn bếp đó, không phải từ một cái sớ dài hay trang giấy ghi chép công thức nấu ăn.

Tôi luôn cảm thấy bệnh ung thư của mẹ ở dạ dày thật là tàn nhẫn, và trong những ngày cuối cùng bà không thể ăn uống nữa. Bữa ăn cuối cùng tôi nấu cho mẹ vào giao thừa năm 1990. Chị tôi gợi ý thay vì món sườn hay gà vịt, hay những món ăn đầy ắp ê hề theo văn hoá Hàn Quốc, chúng tôi nên làm những món ăn vặt để mẹ có thể nhón tay nhấm nháp và gắp vài đũa.

Chúng tôi để thức ăn trên bàn cà phê bằng kiếng trong phòng gia đình. Tôi chuẩn bị một mâm cá hồi xông khói, chiên một vài cái bánh đậu, và vài món nữa tôi nghĩ mẹ thích. Chị tôi hướng dẫn, sắp xếp từng đĩa, và chúng tôi hào hứng mang từng món đến cho ba mẹ. Cuối cùng, tôi mang một chai sâm-banh trong một xô đá. Mẹ dời ghế salon và đứng dậy, nhìn thức ăn trên bàn. “Trông rất là đẹp mắt”, mẹ nói. “Mẹ nghĩ mẹ đang thấy đói”.

Điều này làm cả nhà thấy vui, đặc biệt là tôi, vì tôi không thể nhớ rằng lần cuối mẹ thấy đói là khi nào, dù chỉ một tí, hay lần cuối cùng bà ăn những gì tôi nấu. Cả nhà bắt đầu ăn. Mẹ gắp một miếng cá hồi trên bánh nướng và nhấp một tí. Bà ngậm qua lại một lúc, rồi nhả ra, miếng cá rơi xuống cái đĩa. Mẹ nuốt nước bọt vất vả, như là để chặn một cơn buồn nôn, rồi nhìn lên xem chúng tôi có để ý không. Tất nhiên cả nhà đều để ý. Mẹ cố thử thêm một miếng bánh đậu, một chút phô mai, rồi một miếng trái cây, nhưng không có thứ nào vừa.

Mẹ gật đầu nhìn tôi, rồi nói “Ồ, ngon lắm”. Nhưng tôi đã bắt đầu cảm thấy trống rỗng lạc lõng và bất chợt đặt cái đĩa của mình xuống bàn, gần như làm bể tấm kính dày. Có một sự im lặng xấu xí bao trùm, trước khi ba hỏi tôi, giọng ông lo lắng ân cần, rằng tôi có ổn không; và tôi trả lời rằng không có gì cả, đó là đêm cuối cùng của một năm dài, cả nhà đang ở bên nhau, và tôi đơn giản cảm thấy nhẹ nhõm. Nửa đêm, tôi rót mấy ly sâm-banh, thậm chí cả một ly cho mẹ, và bà uống một ngụm dài. Mẹ có vẻ nhẹ nhõm sảng khoái hơn, rồi tôi dìu bà đi gượng gạo đến tấm nệm. Mẹ nằm xuống đó, nơi mà trong một tuần ngắn ngủi sau bà qua đời.

Mẹ tôi có thể nấu gần như bất cứ món gì, nhưng trong những năm đầu tiên sống ở đất nước này chúng tôi chỉ ăn thức ăn Hàn Quốc. Vì tôi năn nỉ nhiều quá, mẹ bắt đầu học nấu những món ngon của lạ kiểu Mỹ. May mắn sao, một người hàng xóm tốt bụng, cô Churchill, một phụ nữ trẻ cao ráo, với mái tóc vàng óng, hay chỉ cho mẹ những công thức đáng tin cậy nhất của cô ấy. Cô Churchill có hai đứa con nhỏ, trắng bệch, với kiểu tóc cắt ngắn như nhau, luôn luôn đi theo cô ấy, và mặc dù tôi thấy chúng nó không đến nỗi nào, tôi vẫn hay lén bỏ đi chỗ khác vài phút, vì tôi biết rằng trong nhà bếp mới là nơi nhiều chuyện hay ho xảy ra, nơi mẹ chúng làm hướng dẫn viên cho nền ẩm thực kiểu Mỹ. Cô Churchill đến từ tiểu bang Maine, nơi mà những món ngon như thịt viên Thuỵ Điển, món cá ngừ nướng ổ và bánh bông lan ngon tuyệt của Mỹ được làm ra. Cô ấy luôn sẵn sàng chỉ dẫn một số bước- làm sao để đặt từng tấm mì pasta làm món lasagna, hay làm một món sốt căn bản như roux chẳng hạn, món sốt làm từ chất béo và bột mì để làm sệt những món khác. Cô ấy hay mang mấy cái hộp carton cũ đựng giày chứa đầy những nguyên liệu thú vị như lá oregano khô, men tức thì, và súp kem nấm. Hai người phụ nữ, tuy thoải mái với nhau, nhưng khó giao tiếp vì bất đồng ngôn ngữ, và còn khó khăn hơn vì những từ ngữ nấu nướng phương Tây khá khó hiểu (thịt bò băm “corned beef”, trứng luộc với lòng đỏ trộn mayonnaise bỏ ngược lại trong lòng trắng “deviled eggs”). Dù tôi cũng chỉ mới học tiếng Anh, tôi vẫn tỏ ra là người thông dịch, len lỏi tới lui giữa hai người ở bàn bếp, nhón tay vào bất cứ nước sốt nào để trên đó. 

Tôi là một đứa trẻ khá lì, và, vì là đứa con đầu của mẹ, mẹ rất nuông chiều và tôn tôi lên. Mẹ có thể nói không, và bà rất thường nói không, nhưng với bất cứ ai biết gia đình tôi- nhất là ba và chị- có thể nhìn là biết: từ chối cho tôi bất cứ cái gì đều khiến mẹ khó khăn như thế nào. Và khi đó tôi biết mẹ cực kì chiều mình, thường mỗi lần mẹ không vừa lòng nhếch môi một tí là tôi cảm thấy cực kì tội lỗi. Nhưng tôi luôn để mẹ nuông chiều mình hết mức. Mẹ nhắc tôi mỗi ngày rằng tôi là đứa con trai duy nhất của bà, là lẽ sống, và nếu mẹ có mất tôi, về thể xác hay tinh thần, thì bà ước rằng Chúa hãy cho bà đi về trời ngay, giáng xuống bà như một cái cành cây yếu ớt.

Theo truyền thống, mẹ là kế toán của gia đình, là người giúp việc, người giặt giũ, người răn đe, tài xế, thư kí, và tất nhiên, là đầu bếp. Mẹ cũng là huấn luyện viên bóng rổ đầu tiên của tôi. Ở Hàn Quốc, nơi mà bóng rổ trung học nữ là một môn thể thao nhiều người xem, mẹ từng là ngôi sao, hậu vệ cho đội trung học chiến thắng giải toàn châu Á. Tôi biết được điều này một ngày thứ bảy mùa hè, khi tôi hỏi ba nếu ba có muốn xuống sân trường và chơi bóng rổ với tôi. Tôi vừa mới học xong lớp 5, và vô cùng muốn vào đội bóng rổ ở trường cấp 2 vào mùa thu. Ba gọi mẹ và chị đi cùng. Khi chúng tôi đến đó, chị tôi ngay lập tức chạy tới chơi xích đu, và tôi còn nhớ cảm giác khó chịu khi thấy mẹ không đi theo chị ấy. Tôi dẫn bóng một cách vụng về vài lần, suýt nữa thì mất bóng, rồi thảy đại một phát bóng bay ngang qua thành rổ. Trái bóng tưng đến chỗ ba, ông cũng dẫn một vài phát không đẹp đẽ gì, rồi nhảy lên cho bóng vào rổ. Ông dẫn bóng ra ngoài, rồi chạy ngược lại cho bóng vào rổ từ phía bên kia. Ông chuyền bóng đến chỗ mẹ, bà nãy giờ đang đứng nhìn chúng tôi từ xa. Mẹ quay lưng về phía cái rổ, rồi bắt đầu chạy về hướng ngược lại.

“Mẹ à”, tôi la lớn, nỗi khó chịu to dần, “cái rổ nó nằm ở bên này này!”

Sau một vài bước, mẹ quay lại, và từ vị trí mà bây giờ gọi là vạch ba điểm chuyên nghiệp, mẹ không cần mất sức mà dễ dàng lật bóng lên trong một cú đánh bằng hai tay, đường bay của nó thật cao và chính xác hơn bất kì người đàn ông hay thằng con nít nào mà tôi từng chứng kiến. Trái bóng bay vòng cung nhảy thẳng vào trong rổ. Hết cả buổi trưa, mẹ thảy hết cú này đến cú khác, trong khi ba và tôi chạy lăng quăng sau lưng không kịp.

Khi chúng tôi về nhà từ sân bóng, mẹ lôi ra cho xem những album ảnh từ thời mẹ còn chơi bóng thắng giải. Qua nhiều năm, tôi giữ nó trong phòng của mình, trên cùng một cái kệ nơi tôi để những album hình ảnh mình gom góp về các ngôi sao bóng rổ, từ cắt dán trong tạp chí, tôi sưu tầm hình của những ngôi sao như Bubbles Hawkins hay Pistol Pete và George (the Iceman) Gervin.

Tôi luôn thấy khó hiểu khi mẹ cho là những thành quả và tiểu sử bản thân bà là không đáng kể. Khi mẹ không bận gạt bỏ những thành tích của bản thân, thì mẹ lại tìm cách lảng tránh nó bằng cách nói về ba bất cứ khi nào bà có thể. Bà luôn hứng khởi kể lại thành tích xuất sắc của ba khi còn học trường y, và dặn tôi mỗi đêm trước khi chuẩn bị làm bài tập, rằng ba đã cố gắng nhiều như thế nào trong công việc để có thể dành cho chúng tôi cuộc sống bây giờ. Mẹ nói là vì khuôn mặt châu Á và giọng nói tiếng Anh không hoàn hảo như người bản xứ, mà ba luôn làm việc “gấp đôi các bác sĩ người Mỹ”. Tôi biết là mẹ cố gắng tôn ba lên, với cả sự kính nể chân thành lẫn sự thêu dệt riêng của bà, và nỗi lo lớn nhất của mẹ là tôi không nhìn ba bằng cách mà mẹ muốn- nhìn ông bằng một sự kính nể tột cùng như có ánh đèn sân khấu rọi vào, ba đứng đó một mình vững chãi.

Trong cái năm trước khi đi học ở Exeter, tôi bắt đầu cảm thấy khó chịu khi mẹ thường xuyên nhắc lại những câu chuyện về thành công của ba. Tôi là một đứa vị thành niên, nên lúc nào cũng hay gạt cho qua và thậm chí còn cay cú về những gì liên quan đến gia đình hay ở nhà. Rất thường xuyên, mẹ luôn là chủ đề của sự móc xoáy của tôi. Bất chợt, cuộc sống của mẹ trở nên thật bé nhỏ đối với tôi. Mẹ ở nhà, và đôi khi tôi nghĩ, lúc nào cũng ở nhà, giống như mẹ bị giam trong bốn bức tường của căn nhà. Tôi thậm chí còn phàn nàn về những món bà nấu. Hầu hết, tôi cảm thấy ngày càng thiếu kiên nhẫn vì mẹ gặp khó khăn trong việc làm những công việc đơn giản hằng ngày. Tôi lo sợ giùm cho mẹ. Một ngày, chúng tôi cãi nhau to khi mẹ nhờ tôi gọi điên cho ngân hàng để hỏi rõ về sự không đồng nhất trong tài khoản tháng đó mà bà vừa phát hiện. Tôi hỏi tại sao mẹ không thể tự gọi cho họ. Lúc đó tôi ngu ngốc và khá nhẫn tâm, và tôi biết chính xác làm thế nào để mẹ tổn thương.

“Gọi rồi mẹ nói chuyện với ai?” Mẹ hỏi. Mẹ hầu hết nói chuyện với tôi bằng tiếng Hàn, và tôi trả lời bằng tiếng Anh.

“Nói với người quản lý ngân hàng, chứ còn ai nữa?”“Rồi mẹ nói gì với họ?”

“Nói gì tuỳ mẹ chứ.”

“Đừng nói chuyện với mẹ bằng cái giọng đó!” Mẹ la lên

“Chỉ là mẹ nên biết làm những công việc đó một mình”, tôi nói.

“Con biết mẹ cảm thấy như thế nào về những việc này!”

“Ừ, vậy nên mẹ có thể nghĩ nó là tập dượt vậy” Tôi trả lời nhẹ, dùng từ bằng tiếng Hàn để chắc chắn là bà hiểu.

Mặt mẹ trắng bệch, cổ bà đột nhiên trở nên cứng lại, giống như tôi đang bóp cổ mẹ vậy. Tí nữa thì mẹ đánh tôi một phát ngay lúc đó, nhưng thay vì vậy bà cắn môi và chạy lên lầu. Tôi chạy theo, xin mẹ tha thứ ngay ngoài cửa phòng bà. Nhưng đó là lần duy nhất trong cuộc đời hai chúng tôi mà tôi không thể thuyết phục mẹ, không thể khiến sự cứng rắn tan chảy với sự dẻo ngọt của một thằng con trai được nuông chiều quá mức.

Khi mẹ cảm thấy đủ khỏe, hoặc tinh thần đặc biệt tốt, bà sẽ lăn máy bơm thuốc của bà vào bếp và ngồi vào bàn ăn cơm nhìn tôi làm. Mẹ mặc đồ ngủ cả ngày lẫn đêm, hầu hết là những bộ pijama cũ của tôi.

Mẹ nói, “Mẹ nhìn không biết là con đang làm món gì?”

“Con làm nhân hoành thánh”

“Con không muối bắp cải và bí à.”

“Con phải làm vậy hả?”

“Tất nhiên rồi. Nhìn kìa, ướt quá. Bây giờ da sẽ bị sũng nước trước khi con chiên”.

“Vậy giờ con làm gì đây?”

“Trễ quá rồi. Có lẽ không đến nỗi nào, nếu con làm nhanh tay. Tại sao con không hỏi mẹ? “

“Mãi mẹ mới ngủ được mà”

“Đúng ra con nên gọi mẹ dậy”

“Không đời nào.”

Mẹ thở dài, sâu đến mức có thể đối với đôi phổi mệt mỏi.

“Mẹ không biết con sẽ xoay sở thế nào nếu không có mẹ.”

“Con cũng không biết. Lần sau con nhớ sẽ muối. “

“Chứ còn gì nữa. Và nhớ là không quá nhiều muối đâu”.

Chúng tôi thường nói chuyện như thế này, giọng điệu khô ran, vào vấn đề thực tế, chỉ vừa mức có thể chịu đựng được. Một lần, khi đang kiểm tra món bột chiên khoai tây mà tôi đang làm, mẹ hỏi tôi rằng mẹ đã bao giờ làm điều gì mà tôi ước là mẹ đừng làm chưa. Tôi suy nghĩ một lúc, và nói với mẹ là không. Trong hơi thở tiếp theo, mẹ tự hỏi lớn rằng liệu có đúng hay không khi để tôi đi học ở Exeter, sống xa nhà khi còn rất nhỏ. Mẹ kiểm tra độ dày của bột bằng ngón tay và bảo tôi cho thêm bột. Rồi mẹ hỏi, nếu được lựa chọn cho bản thân lần nữa, tôi liệu có đi học ở Exeter không.

Tôi không hiểu lắm mẹ đang cố nhắm đến cái gì, và tôi nói với mẹ rằng tất nhiên mình không thể chắc chắn, nhưng có lẽ, có, tôi vẫn sẽ chọn đi học ở Exeter. Mẹ khịt mũi và nói rằng việc tôi rời xa gia đình đi học xa đã từng khiến mối quan hệ của chúng tôi trở nên khó khăn. “Còn nhớ mẹ đã gặp rất nhiều khó khăn khi nói chuyện với con như thế nào không? Nhớ không?”

Hồi đó, mẹ đã tin rằng tôi càng ngày càng thấy mẹ giống như người không biết gì mỗi khi tôi về thăm nhà. Mẹ nói rằng bà chưa bao giờ đổ lỗi cho tôi, vì mẹ biết là nó sẽ phải như vậy khi tôi được tiếp cận một nền giáo dục mới tuyệt vời. Tôi có nói gì đi nữa cũng không dập tắt được suy nghĩ đó của bà. Nhưng tôi biết rằng vấn đề không chỉ đơn giản là nền giáo dục. Lần đầu tiên tôi gặp lại mẹ sau khi bắt đầu đi học, chỉ sáu tuần sau khi nhập học, khi bố mẹ đến thăm tôi vào Ngày của Cha mẹ, bà đã trở nên lo lắng và xa cách. Sau khi dự các sự kiện thông thường trong khuôn viên trường, chúng tôi đến nhà nghỉ nơi ba mẹ nghỉ đêm ở một thị trấn gần đó và ngồi trên chiếc giường trong phòng. Mẹ dường như cứ lén nhìn tôi, như thể tôi sẽ phát hiện một sự thật mới khủng khiếp nếu nhìn thẳng vào mắt nhau.

Cảm giác bí mật của riêng tôi là tôi đã rất nhớ bố mẹ, đặc biệt là mẹ, và nhiều hơn tôi dự đoán. Tôi không thể nói với họ rằng những tuần đầu tiên này chỉ là một sự mờ mịt đối với tôi, rằng tôi cảm thấy hoàn toàn bị choáng ngợp bởi chương trình học và những người bạn thông minh hơn nhiều và hàng ngàn chi tiết khó khăn khi sống một mình, và rằng tôi thực sự chẳng học được gì, ngoại trừ cách đeo cà vạt khi chạy nước rút đến lớp. Tôi cảm thấy như thể mình đã chìm quá sâu vào một thế giới mà, cùng với niềm kinh hãi của tôi, nó lớn hơn nhiều so với những gì tôi có thể tưởng tượng.

Tôi hoan nghênh sự tạm lắng của phòng trọ. Tôi và ba gần như ngủ gật thì mẹ đột nhiên bật dậy đầy phấn khích, lẩm bẩm rằng mẹ thật ngốc nghếch, rồi vội vã đi đến tủ quần áo bên cửa. Bà lôi ra chiếc rương ủ mát bằng kim loại cũ và kéo nó vào giữa hai giường. Bà mở nắp lên và bắt đầu mãi miết mở từng hộp nhựa, lúc đó tôi còn nghĩ rằng bà sẽ không bao giờ dừng lại. Chúng lần lượt xuất hiện, từng món từng món bà chọn có thể đi đường xa- thịt kho mặn, cuộn sushi kiểu Hàn Quốc. Tôi mở một hộp kim chi củ cải và đột nhiên căn phòng bốc lên mùi của nó, và tôi say sưa với cảm giác rất đặc biệt (mà có lẽ chỉ những người yêu kim chi thực sự mới biết)- vừa chảy nước dãi vừa buồn nôn khi hít thở cái mùi đặc trưng đó. Trong vài phút tiếp theo, ba mẹ nhìn tôi ăn. Tôi không nhớ rằng mình thậm chí có đói bụng hay không. Nhưng sau nhiều tuần ăn thịt heo nấu phô mai parmesan, chả gà và đậu sáp, tôi chợt nhận ra rằng mình như đã mất hết hương vị trong đời. Và ngay lúc này đây, dường như tôi không thể nào lấy lại được đủ. Tôi cứ ăn và ăn, rất nhiều và nhanh đến mức tôi phải vào nhà vệ sinh để nôn mửa. Tôi bước ra choáng váng, thoả mãn trong hơi ấm ma quái từ việc ăn ngấu nghiến của mình.

Và bên dưới vẻ mặt lo lắng của mẹ, tôi nghĩ, mẹ đang mỉm cười.

Từ hôm đó, mẹ luôn chuẩn bị một bữa ăn nhất định để đón tôi về nhà. Lúc nào cũng là mấy món đó. Ngay cả khi ngồi trên xe buýt đưa đón của trường từ Exeter đến sân bay Logan, tôi đã có thể mường tượng chính xác cách sắp xếp bàn ăn của mẹ.

Tôi biết rằng cả nhà sẽ dùng bữa trong bếp, bàn ăn đầy đĩa và thức ăn. Tất nhiên là có thịt kalbi, được nướng trong lò hoặc ngoài trời tùy theo mùa. Lá cải để cuốn thịt. Một bát nước luộc nghêu có mùi tỏi hấp dẫn với miso, đậu phụ và rau bó xôi. Cá tuyết bào vụn, lăn qua bột mì rồi nhúng qua trứng và chiên. Miến với hành tây và nấm hương. Bánh kếp hành lá và ớt cay. Tôm hấp để lạnh. Các món gỏi gồm giá đỗ, rau bó xôi và củ cải trắng. Những miếng rong biển hình vuông giòn rụm. Cơm trắng với lúa mạch và đậu đỏ. Kim chi nhà làm. Tất cả đều ở đó – những hương vị cũ mà tôi biết, vị măn, vị ngọt, vị tuyệt vời.

Sau bữa ăn, bố tôi và tôi nói về trường học, nhưng tất nhiên tôi không bao giờ có thể nói đủ để câu chuyện có ý nghĩa. Bố thường nhớ lại thầy hiệu trưởng trường trung học của mình, người đã đến Anh để nghiên cứu phương pháp và truyền thống của các trường công lập, và những học sinh vương giả với những câu chuyện về người đàn ông Eton vĩ đại. Mẹ tôi ngồi gọt hoa quả kế bên, không nói một lời nào mà chỉ nghe và thấm hết mọi thứ. Đến giờ đi ngủ, ba nói chúc ngủ ngon trước. Tôi thường xem tivi cho đến sáng sớm. Mẹ sẽ ngồi với tôi trong một hoặc hai tiếng, có lẽ cho đến khi bà quen với tôi trở lại, và chỉ sau đó bà mới hôn tôi và đi lên lầu ngủ.

Những ngày sau đó, nấu ăn luôn luôn là điểm bắt đầu cuộc đối thoại của tôi và mẹ. Mẹ hỏi về những món ăn nguội mà chúng tôi ăn lúc trưa, bàn về mỗi món với sự cân bằng mùi vị hoặc đúng ra tôi nên chuẩn bị theo cách khác. Nhưng hầu hết, tôi phải năn nỉ mẹ đừng đụng đến việc rửa chén dĩa. Tôi ước gì mình biết để ý nhiều hơn. Sau khi mẹ mất, khi ba và tôi là người duy nhất còn lại trong nhà, đi từ phòng này qua phòng khác như những bóng ma, tôi thỉnh thoảng cố gắng nấu lại bữa ăn đó cho ba. Dù nó khá là nhiều chỉ cho hai người, nhưng tôi vẫn nấu từng món, chậm rãi và chú tâm nhất có thể. Nhưng chẳng có món nào được giống như mẹ ngày xưa- màu không đúng, mùi cũng không đúng. Ngồi bên bàn ăn, hai người không ai nói gì. Rồi ba và tôi phải ăn hết số thức ăn đó trong mấy ngày liền.

Tôi nhớ một ngày đang vo gạo trong bếp, và mẹ nói tiếng Anh, từ chỗ mẹ vẫn hay ngồi, “Mẹ phạm một sai lầm lớn”

“Về trường Exeter?”

“Ừ, mẹ đã mắc một lỗi lầm lớn. Đúng ra con phải ở nhà với ba mẹ trong thời gian đó. Mẹ đã không bao giờ nên cho con đi học ở đó”.

“Vậy tại sao mẹ để con đi?” Tôi hỏi.

“Vì mẹ không biết mẹ sẽ chết”.

Tôi để lời nói của mẹ trôi qua. Lần đầu tiên trong đời, mẹ cho phép bản thân nói thật lòng những gì bà suy nghĩ, tôi còn có thể làm gì nữa?

“Nhưng thôi, con biết không?” Mẹ nói lớn hơn. “Đi là tốt hơn cho con. Nếu con ở nhà, con sẽ không thích mẹ cho lắm vào lúc này đâu.”

Tôi nói rằng có thể tôi thích mẹ hơn nữa.

Mẹ lắc đầu “Không thể nào”.

Đôi khi tôi vẫn nghĩ về những gì mẹ nói, về việc mẹ phạm sai lầm. Trước sau gì tôi cũng phải rời gia đình đi học đại học, nhưng những năm tháng tôi học nội trú, khoảng thời gian đó ngày càng trở nên quý giá đối với mẹ khi bệnh bà trở nặng. Sau nhiều tháng mệt lả, những cơn đau và trí óc lu mờ vì nhiều thứ thuốc, tôi nghĩ rằng sự minh mẫn của mẹ bắt đầu suy giảm, vì ngày càng nhiều, mẹ giống như vẫn nhìn tôi vẫn là thằng nhóc 15 tuổi của mẹ, đứa con mà ba mẹ chở đến trường nội trú ở New Hampshire trong một buổi chiều tháng 9 âm u.

Tôi nhớ người đầu tiên tôi gặp, một học sinh mới khác, tên Zack, cậu ấy đi cùng tôi đến buổi picnic chào đón học sinh. Tôi đã định sẽ ăn chung với ba mẹ- mẹ mang cả một giỏ đầy ắp đồ ăn cho ngày đầu tiên- nhưng tôi biết được thông tin về buổi picnic và nói mẹ rằng tôi nên đi dự. Tất nhiên là tôi muốn đi. Tôi đã rất phấn khởi, lẫn một chút sợ hãi và lo lắng, và nghĩ rằng mình phải nghĩ xa một chút ở một môi trường mới. Mẹ đồng ý hoàn toàn, nói rằng tôi nên đi. Tôi đi cùng ba mẹ ra xe, hình như tôi có ôm hai người, trước khi chào tạm biệt. Một ngày, sau khi mẹ mất, ba kể cho tôi nghe những gì đã xảy ra trên đoạn đường dài chạy xe về nhà ở Syracuse.

Ba đang chạy xe, nhìn thẳng phía trước. Đường không nhiều xe trên đường cao tốc Massachusetts Turnpike, và trời chập choạng gần tối. Ba mẹ đã chạy hơn hai tiếng đồng hồ và không nói với nhau một lời nào. Rồi ba nghe một tiếng động lạ từ mẹ, nghe như tiếng nhai nhẹ, như có gì đó đang ngấu nghiến tìm đường ra.

“Sao vậy em?” Ba hỏi, cố gắng giữ giọng bình thường.

Mẹ nhìn ba với gương mặt xám sầm, rồi bật khóc. Ba cũng bắt đầu khóc, ông lái xe vào khoảng lề hẹp bên đường, họ ở đó khoảng nửa tiếng, từng dòng xe lướt ngang qua trong đêm lạnh đang đến.

Đôi khi, mỗi lúc nghĩ về mẹ, tôi đang lái xe một mình ở đâu đó trên đường cao tốc. Trong buổi tối chạng vạng, tôi thấy chiếc xe của ba mẹ bên lề, chiếc xe Olds xanh dương với tấm mái giả mui trần, và khi chạy ngang qua, tôi nhìn về phía sau trong kính chiếu hậu và thấy họ lần nữa, hai chiếc bóng núp vào nhau ở ghế trước. Họ đang ngủ à? Hay đang hôn nhau? Họ có sao không?

Dịch: Ngọc Bích- The Tiny Pharmacist với mục đích sử dụng cá nhân.

Tác giả Chang-rae Lee hiện đang giảng dạy môn Creative Writing tại đại học Stanford, California.

Nguyên bản tiếng Anh từ The New Yorker

2 thoughts on “Về nhà lần nữa

  1. Em đã đọc bản tiếng Anh của bài này rồi nhưng vẫn thấy rất thích bản dịch của chị. Có thể do bài này viết bằng ngôn ngữ mà em gắn bó với nhiều kỷ niệm ấu thơ nhất, cũng có thể do bản thân em tìm thấy mình trong những trải nghiệm mà tác giả miêu tả. Những bữa cơm gia đình, hình ảnh người mẹ, nỗi trống trải da diết vì sự xa cách người mình yêu thương về cả không gian và thời gian, ký ức – đây đều là những trải nghiệm chung của con người chứ không riêng gì người Mĩ gốc Á. Tuy vậy, phong cách dịch của chị thật sự khéo léo và trau chuốt nhưng vẫn rất gần gũi và đậm chất Việt. Đọc bài dịch của chị em mới nhận ra dịch thuật cũng là cả một nghệ thuật và bản dịch này đem lại cho em một trải nghiệm quen thuộc nhưng vẫn rất khác, rất mới mẻ so với khi em đọc bản tiếng Anh. Em cảm ơn chị nhiều vì đã dành thời gian chia sẻ với mọi người.

    Sau khi đã sinh sống ở Mĩ cũng được một thập kỉ rồi thì em nhận thấy khả năng sử dụng ngôn từ và biểu đạt ý nghĩ, cảm xúc của mình bằng tiếng mẹ đẻ nay đã kém hơn hẳn bằng tiếng Anh, đến mức với ba mẹ em cũng không thể nói chuyện trôi chảy bằng tiếng Việt được nữa. Em cảm thấy buồn vì điều này và cảm thấy như khoảng cách giữa mình và những trải nghiệm, ký ức ở Việt Nam và bằng tiếng Việt ngày càng lớn dần. Sống xa xứ nhiều năm như vậy chị đã duy trì ngôn ngữ dân tộc mình như thế nào vậy ạ?

    Like

    1. Cảm ơn em đã dành thời gian đọc và comment, đặc biệt là chia sẻ cảm nhận của em về bản dịch khiến chị thấy mừng là mình không huỷ hoại tác phẩm 🙂

      Có lẽ việc viết blog là một trong những việc làm thiết thực nhất của chị để trau dồi tiếng Việt. Khi viết, chị cũng phải Google rồi translate đủ thứ vì thật ra không nhớ hết đâu, rồi viết phải sửa đi sửa lại mỗi bài chứ không phải 1 lần là post được. Chị thấy là nhiều khi mình viết tiếng Việt dịch y chang từ tiếng Anh, nó hơi vụng, rồi phải ngồi suy nghĩ lại xem sao cho trôi chảy (tuy nhiên chị không còn quá hoa mỹ như nhiều người VN vẫn viết trong báo chí hay văn chương). Đối với chị, những từ ngữ đó đã trở thành xa lạ khó hiểu hơn, và chị cũng bị ảnh hưởng từ cách viết lách của người Mỹ nhiều. Nhưng có lẽ vì vậy mà các bạn theo dõi blog thấy từ ngữ của chị dễ hiểu.

      Càng ngày đi làm, đi học thêm, trong môi trường professional tiếng Anh càng nâng cao thêm chút thì đúng là tiếng Việt có yếu đi một phần. Chị cũng thường viết nhật kí (nhất là thời điểm cuối năm hay sinh nhật đón tuổi mới) để ghi lại những cảm xúc bằng tiếng Việt để không quên.

      Và một điều nữa chị không thích thú nhận nhưng là sự thật- chị vẫn đọc Kênh14 thường xuyên để xem ngôn ngữ giới trẻ chuyển hoá đến mức nào, có cụm từ nào mới 🙂

      Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s